|
Kính gửi Cộng đồng Dân Chúa Việt
Nam
LỜI MỞ
1- Chúng tôi, Hồng y, Tổng Giám
mục và Giám mục thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, xin gửi tới
anh chị em lời chào thân ái và lời cầu chúc bình an trong Chúa
Kitô.
2- Ý thức sứ mạng giáo huấn được
trao phó cho những chủ chăn, dịp Đại hội của Hội đồng Giám mục
lần thứ X năm 2007 tại Hà Nội, chúng tôi đã gửi đến anh chị em
Thư Chung với chủ đề “Giáo dục hôm nay, xã hội và Giáo Hội ngày
mai”. Chúng tôi vui mừng thấy Thư Chung này đã được đón nhận và
áp dụng với những sáng kiến phong phú tại các Giáo phận. Xin cám
ơn anh chị em đã nhiệt tình hưởng ứng lời mời gọi của chúng tôi
để cộng tác phần mình vào nền giáo dục đức tin và văn hóa, nhằm
xây dựng Giáo Hội và xã hội Việt Nam, hôm nay và tương lai.
3- Tiếp nối tinh thần Thư Chung
2007 về giáo dục Kitô giáo, năm nay chúng tôi mời gọi anh chị em
hãy cùng với chúng tôi suy tư và hành động để góp phần chấn
chỉnh môi trường giáo dục tại gia đình (x. Thư Chung 2007, số
38). Giáo dục tại gia đình là vấn đề quan trọng và cần thiết,
tạo tiền đề cho việc phát triển nền giáo dục nói chung, vì gia
đình là nền tảng của Giáo Hội và xã hội. Nếu nền tảng gia đình
được củng cố chắc chắn, Giáo Hội và xã hội tương lai sẽ phồn
thịnh và phát triển. Qua Thư Mục vụ này, chúng tôi muốn bày tỏ
mối ưu tư đối với hiện trạng gia đình Việt Nam và nêu lên những
đề nghị cụ thể để góp phần canh tân mục vụ trong lãnh vực này,
một lãnh vực căn bản của đời sống con người và đời sống Giáo Hội.
I- NỀN TẢNG CỦA VIỆC GIÁO DỤC
GIA ĐÌNH
4- Gia đình trong ý định của
Thiên Chúa là nơi giáo dục tình yêu
Thiên Chúa là Tình Yêu (1 Ga
4,8). Chính vì yêu thương mà từ hư vô Ngài đã tạo dựng con người
giống hình ảnh Ngài để thông ban cho họ vinh quang vĩnh cửu.
Ngài dựng nên con người có nam có nữ, tuy khác biệt về phái tính
nhưng hoàn toàn bình đẳng với nhau và bổ túc cho nhau.Ngài ban
cho họ có khả năng yêu mến để hướng về những ước vọng chân chính
tốt lành. Nơi đời sống hôn nhân, tình yêu liên kết người nam và
người nữ cách mật thiết đến nỗi họ không còn phải là hai, mà chỉ
là một xương một thịt. Tình yêu hôn nhân còn phản ánh chính tình
yêu của Thiên Chúa và được Chúa chúc lành.
5- Gia đình là mái trường đầu
tiên của Con Thiên Chúa nhập thể
Khi sinh xuống trần gian, Đức
Giêsu đã sống trong một gia đình. Người có một quê hương, có cha
có mẹ và hàng xóm láng giềng. Những người đồng hương biết rõ
Người là “con bác thợ mộc” và “mẹ Người là bà Maria” (Mt 13,55).
Thánh Giuse và Đức Maria đã nuôi dưỡng và giáo dục Hài Nhi Giêsu
ngay từ lúc chào đời. Chính trong khung cảnh gia đình, Đức Giêsu
đã học những bài học căn bản về đời sống đức tin và văn hóa. Về
phần Đức Giêsu, “Người tuân phục hai ông bà” (Lc 3,51). Có thể
nói, lối giáo dục của Thánh Giuse và Đức Maria đã góp phần làm
phong phú lời giảng dạy của vị Ngôn sứ thành Nazareth sau này.
Người đã vận dụng những ca dao tục ngữ, những hình ảnh bình dân
của nền văn hóa địa phương để rao giảng Nước Trời. Như thế, gia
đình Nazareth cho thấy tầm quan trọng của gia đình trong việc
giáo dục. Thánh Gia thất chính là mẫu gương cho các gia đình,
nhất là những người làm cha mẹ, trong mọi nền văn hóa và môi
trường xã hội.
Là Con hiếu thảo của một gia
đình, Đức Giêsu cũng là Con yêu dấu của Chúa Cha. Chính Chúa Cha
đã xác nhận điều đó: “Đây là con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về
Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người” (Mt 17,5). Người luôn
lo lắng chu toàn sứ mạng của Chúa Cha, từ thời niên thiếu, khi ở
lại trong Đền Thờ giữa các bậc tiến sĩ, cho đến giờ phút khổ nạn
thập giá. Đức Giêsu đã luôn thể hiện ý Chúa Cha trong lời nói
cũng như việc làm. Vâng phục thánh ý Chúa Cha chính là lương
thực của Người (x.Ga 4,34).
6- Gia đình diễn tả tình yêu giữa
Chúa Giêsu và Giáo Hội
Trong Cựu Ước, cácNgôn sứ thường
mượn hình ảnh hôn nhân để diễn tả mối liên kết giữa Thiên Chúa
và Dân Ngài. Sau này, Thánh Phaolô còn cụ thể hơn khi dùng hình
ảnh khế ước tình yêu nam nữ để diễn tả mối gắn bó giữa Đức Giêsu
và Giáo Hội (x. Ep 5,21 tt). Hôn nhân công giáo được nâng lên
hàng bí tích, trở thành dấu chỉ và khí cụ của tình yêu giữa Đức
Kitô và Giáo Hội. Đó là tình yêu quảng đại, hy sinh và hiến mạng
sống vì người mình yêu. Vì thế, như Đức Kitô đã làm gương qua
việc Người hiến mình vì Giáo Hội, tình nghĩa vợ chồng phải được
xây dựng trên mẫu mực nền tảng đó. Đức Gioan Phaolô II nhắc lại
điều này trong Tông huấn về gia đình: “Hôn nhân của những người
đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy trở nên biểu tượng thật của giao
ước mới và vĩnh cửu được ký kết trong máu Đức Kitô. Thánh Thần
mà Chúa Cha đã đổ tràn xuống, ban cho họ một trái tim mới và làm
cho cả người nam và người nữ có khả năng yêu thương nhau như Đức
Kitô đã yêu thương chúng ta” (Tông huấn Gia Đình, số 13).
7- Gia đình là mái trường giáo
dục tình hiệp thông
“Gia đình, được thiết lập do tình
yêu và được sinh động cũng do tình yêu, là cộng đồng các ngôi vị:
đôi bạn nam và nữ, cha mẹ và con cái, họ hàng. Bổn phận đầu tiên
của gia đình là trung thành sống thực tại của sự hiệp thông... ”
(Tông huấn Gia Đình, số 18). Mối hiệp thông này được củng cố và
phát triển nhờ tình tương thân tương ái và nhờ sự nâng đỡ lẫn
nhau trong đời sống nhân bản cũng như đời sống đức tin. Quả vậy,
nếu mọi thành viên trong gia đình sống thuận hòa và đùm bọc lẫn
nhau, gia đình sẽ trở nên ấm cúng. Tình hiệp thông giữa các
thành viên trong một gia đình sẽ góp phần củng cố gia đình nhân
loại và gia đình Thiên Chúa, tức là Giáo Hội.
8- Gia đình là mái trường giáo
dục lòng hiếu thảo và thờ phượng Thiên Chúa
Luật Cựu Ước đã đề cập đến lòng
hiếu thảo đối với cha mẹ ngay sau khi nói đến bổn phận thờ
phượng của con người đối với Thiên Chúa trong ba giới răn đầu.
Điều đó cho thấy tình tương thân tương ái trong gia đình đi liền
với việc tôn thờ Thiên Chúa. Nói cách khác, hiếu thảo với các
bậc sinh thành dưỡng dục là bổn phận quan trọng chỉ đứng sau
việc thờ phượng Thiên Chúa. Tiếp đó, các tác giả văn chương khôn
ngoan đã ca tụng những người con hiếu thảo. Hiếu thảo không chỉ
là việc đền đáp nghĩa sinh thành, nhưng còn vì “Ai thờ cha thì
bù đắp lỗi lầm, ai kính mẹ thì tích trữ kho báu… ai tôn vinh cha
sẽ được trường thọ, ai vâng lệnh Đức Chúa sẽ làm cho mẹ an lòng”
(Hc 3, 3-6). Có thể nói, việc tôn thờ Chúa bảo đảm cho hạnh phúc
gia đình và việc thảo kính cha mẹ là bổn phận thiết yếu đối với
những ai yêu mến Chúa và muốn nên trọn lành. Gia đình chính là
chiếc nôi ấp ủ, là mái trường đào tạo con người biết thực hành
bổn phận cao quý này.
II- GIA ĐÌNH TRONG BỐI CẢNH VIỆT
NAM HÔM NAY
9- Nhận định chung
Xã hội Việt Nam nói riêng và thế
giới nói chung đang chuyển mình cách mạnh mẽ với những thay đổi
tích cực nhưng cũng với những mất mát to lớn, trong đó đáng kể
nhất là những giá trị cơ bản liên quan đến sự bền vững của hôn
nhân–gia đình và tình liên đới giữa các thành viên. Xin anh chị
em cùng với chúng tôi nhận định về tình trạng gia đình Việt Nam
trong xã hội hôm nay để tìm ra hướng đi mục vụ đáp ứng những nhu
cầu thiết thực và cấp bách này.
10- Những khủng hoảng gia đình
Là người Việt Nam, chúng ta tự
hào về một truyền thống gia đình trên thuận dưới hòa, trong đó
lòng hiếu thảo có vị trí quan trọng đối với đời sống gia đình và
xã hội. Có thể nói đó là một yếu tố căn bản để con người có thể
thành nhân và thành tài. Nhưng truyền thống tốt đẹp đó đang có
nguy cơ bị xói mòn và mai một. Có những gia đình đang trở thành
một thứ quán trọ thay vì là tổ ấm yêu thương. Có nhiều người cao
tuổi bị con cái bỏ rơi, không nơi nương tựa. Nạn bạo hành gia
đình còn khá phổ biến, đặc biệt nhiều phụ nữ chưa được tôn trọng
và yêu thương xứng đáng với phẩm giá con người. Tỷ lệ ly hôn
ngày càng gia tăng và hậu quả là những trẻ em thất học, trẻ em
bỏ nhà đi bụi đời ngày càng nhiều. Những phương tiện thông tin
đề cập thường xuyên đến nhiều vụ việc tội phạm mà cả nạn nhân và
hung thủ đều là vị thành niên. Phần lớn những em này đều xuất
thân từ những gia đình bất hòa, ly tán và đổ vỡ. Cùng với những
mâu thuẫn và khủng hoảng gia đình, những con số thống kê cho
thấy nạn phá thai càng ngày càng nghiêm trọng, ngay cả nơi những
em còn ở độ tuổi học trò. Cùng với những hậu quả tất yếu về thể
lý, hành động phá thai đã để lại những vết thương tâm lý thê
thảm nơi đương sự và những người có liên quan
11- Gia đình trước ảnh hưởng của
toàn cầu hóa và di dân
Cuộc sống của người Việt Nam
trước đây gắn liền với nông thôn. Mọi sinh hoạt xã hội, kinh tế,
văn hoá và tôn giáo đều diễn ra trong phạm vi “lũy tre làng”.
Trong các Giáo xứ, việc dạy giáo lý, hoạt động từ thiện bác ái,
sinh hoạt phụng tự có thể tổ chức sắp xếp rất thuận lợi. Người
giáo dân có nhiều cơ hội gặp gỡ và chia sẻ trong nhiều lãnh vực
khác nhau. Các thành viên trong một gia đình luôn ở bên cạnh
nhau trong mọi sinh hoạt. Sự gần gũi thường xuyên như thế giúp
mọi người có thể nhắc nhở, động viên nhau sống đạo cách dễ dàng
và hiệu quả. Như vậy, môi trường Giáo xứ miền quê là một môi
trường thuận lợi cho các mối quan hệ liên bản vị và cho nền giáo
dục Kitô giáo.
Môi trường đó nay đang dần dà
thay đổi trước làn sóng đô thị hoá và công nghiệp hoá. Ngày càng
có nhiều người rời nông thôn để tìm việc làm tại các đô thị,
phần lớn trong số này là giới trẻ. Những người di dân là sinh
viên, học sinh, công nhân, những người buôn bán nhỏ và còn nhiều
thứ dịch vụ khác. Cũng vì cuộc sống, có nhiều người đi lao động
hoặc nhiều phụ nữ đi làm dâu tại nước ngoài. Họ phải đối diện
với rất nhiều khó khăn để hội nhập vào một nền văn hóa mới, có
những phong tục tập quán hoàn toàn xa lạ với nền văn hóa của quê
hương, đặc biệt xa lạ với đời sống gia đình công giáo Việt Nam.
Họ rất vất vả trong cuộc vật lộn mưu sinh, không còn thời gian
dành cho đời sống thiêng liêng. Trong hoàn cảnh đó, quan niệm về
tình yêu hôn nhân, về đời sống gia đình cũng bị biến dạng. Đã
xuất hiện những trào lưu thiếu lành mạnh và sai lầm như sống thử,
sống ngoài hôn nhân và tự do ly dị. Đã và đang tồn tại những gia
đình tan vỡ khi vợ hoặc chồng đi xuất khẩu lao động ở nước
ngoài.Quan tâm đến những người di dân là một hình thức mục vụ
mới đối với Giáo Hội Việt Nam hôm nay.
12- Hậu quả của một nền giáo dục
còn nhiều khiếm khuyết
Trước sự kiện hàng loạt những vụ
việc tiêu cực có liên quan đến ngành giáo dục được công bố, đã
có nhiều người lên tiếng kêu gọi chú trọng đến chất lượng thực
thụ của sự nghiệp trồng người. Một nền giáo dục chỉ lo đến bằng
cấp, chỉ phấn đấu để được điểm thi đua mà không chăm lo đến
“tiên học lễ, hậu học văn” sẽ tạo ra một thế hệ thiếu trung thực
và bất tài. Chính vì thiếu khía cạnh “lễ” mà truyền thống tôn sư
trọng đạo đang bị mai một, và hậu quả là bạo lực tràn lan trong
học đường. Những học sinh ở tuổi thơ ngây đã trở thành thủ phạm
của biết bao tội ác, cá nhân cũng như tập thể. Nhà trường đáng
lẽ là nơi đào tạo những chủ nhân tương lai biết tôn trọng sự
thật, đôi khi lại là môi trường cho các em học sự gian dối. Một
số phụ huynh có những hành động phản giáo dục như mua điểm mua
bằng cho con em, hoặc luồn lách để được lên lớp. Điều này đã tạo
cơ hội cho trẻ em bắt chước sự dối trá. Đó là một trong những
thảm kịch nghiêm trọng đe doạ tương lai của Giáo Hội, xã hội và
dân tộc Việt Nam.
III- MỘT SỐ CHỈ DẪN MỤC VỤ
13- Như chúng tôi đã đề cập
trong Thư Chung 2007, giáo dục Kitô giáo là trách nhiệm của mọi
người và từng người. Đối tượng mà nền giáo dục Kitô giáo nhắm
tới cũng là mọi thành phần xã hội, không loại trừ ai. Sau khi đã
cùng nhìn lại toàn cảnh tình hình gia đình Việt Nam hôm nay,
chúng tôi đề nghị một số thực hành giáo dục khởi đi từ lãnh vực
gia đình, vì gia đình là trường học đầu tiên, nơi hình thành
nhân cách và là nơi định hướng cho tương lai của một con người.
14- Gia đình và việc giáo dục đức
tin
“Cha mẹ được mời gọi để biến tình
thương con cái thành dấu chỉ hữu hình cho chúng nhận ra được
tình yêu của Thiên Chúa là ‘nguồn gốc mọi tình phụ tử trên trời
đưới đất’ (Ep 3,15)” (Tông Huấn Gia Đình, số 14). Thiên chức làm
cha mẹ nhắn nhủ những bậc phụ huynh có trách nhiệm thông truyền
đức tin cho các thế hệ kế tiếp. Chính cha mẹ là những giáo lý
viên đầu tiên cho con cái. Hãy giới thiệu cho con cái biết Thiên
Chúa ngay khi con còn bé qua những lời nguyện bập bẹ đơn sơ và
cử chỉ đơn giản (làm dấu Thánh Giá, vòng tay, cúi đầu...). Những
lời cầu nguyện ngắn gọn, những nội dung giáo lý căn bản, những
câu chuyện lấy từ Thánh Kinh, nếu được cha mẹ ân cần chỉ bảo, sẽ
tạo nơi các em một nền tảng giáo lý vững chắc và một đời sống
thiêng liêng sâu đậm sau này. Trách nhiệm của cha mẹ không dừng
lại ở đó, mà còn thể hiện qua việc hướng dẫn, nhắc nhở con em
mình đi học giáo lý, tham gia các hội đoàn đạo đức để trưởng
thành hơn trong đời sống đức tin.
Hình ảnh một gia đình công giáo
Việt Nam được ghi đậm nét do việc mọi thành viên cùng cầu nguyện
chung với nhau. Giờ cầu nguyện chung giúp các thành viên trong
gia đình gần gũi và có trách nhiệm với nhau hơn. Cầu nguyện
chung là yếu tố quan trọng giúp hòa giải những mâu thuẫn gia
đình và làm cho mọi người dễ tha thứ cho nhau.
Sinh hoạt đạo đức này đang bị mai
một vì nhiều lý do, nhất là vì công việc, vì học hành, vì không
cùng tôn giáo trong một gia đình, vì ham mê giải trí. Chúng tôi
kêu gọi anh em Linh mục, các bậc phụ huynh và những cộng sự viên
tông đồ hãy nhiệt thành cổ võ và khôi phục việc đọc kinh tại gia
đình. Những câu kinh lời nguyện, những bài đọc Lời Chúa, nếu
được thực hiện thường xuyên trong gia đình sẽ tạo nơi giới trẻ
một thói quen cầu nguyện. Những thực hành đạo đức ấy sẽ theo các
em suốt đời, kể cả khi các em rời xa gia đình để sống tại một
môi trường khác. Lời cầu nguyện mỗi ngày vang lên từ gia đình,
sẽ làm tăng thêm hạnh phúc và niềm vui, vì qua những sinh hoạt
đạo đức này, chúng ta làm cho gia đình trở nên đền thờ của Thiên
Chúa Tối Cao.
15- Gia đình và việc giáo dục đức
ái
Với những khủng hoảng gia đình
trong xã hội hôm nay, chúng ta cần ý thức rằng từ ban đầu gia
đình là cấu trúc của tình yêu và gia đình theo đúng thánh ý Chúa
phải tồn tại và phát triển trong tình yêu. Do đó gia đình phải
là môi trường giáo dục đặc biệt về tình yêu. Giáo dục đức tin
phải đi đôi với giáo dục đức ái. Cần giáo dục tình yêu cho con
cái biết yêu thương hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, biết yêu
thương kính trọng bà con họ hàng, biết yêu thương và kính trọng
mọi người. Cũng cần giáo dục con cái biết yêu thương, tôn trọng,
nâng đỡ và hy sinh cho nhau. Con người không biết sống yêu
thương trong gia đình thì không thể biết sống yêu thương đúng
nghĩa trong các môi trường xã hội. Việc giáo dục tình yêu cần
phải kiên nhẫn và nhất là cần đến gương yêu thương giữa cha mẹ,
giữa vợ chồng. Gương mẫu của giáo dục tình yêu chính là Thánh
Gia, cao hơn nữa chính là gương Chúa Giêsu yêu thương và phục vụ
Hội Thánh, yêu thương và hy sinh đến chết vì mỗi người chúng ta.
Thật lý tưởng khi mọi thành viên trong gia đình đều cảm nhận sâu
xa là mình được mọi người trong gia đình yêu thương và tình yêu
của mình được mọi người đón nhận, đáp trả.
16- Gia đình và việc dạy con cái
sống theo lương tâm và sự thật
Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI
khẳng định rằng: “Nếu tiến bộ kỹ thuật không đi đôi với tiến bộ
trong việc giáo dục đạo đức con người, trong sự tăng trưởng con
người nội tâm, thì đó chẳng phải là một sự tiến bộ, nhưng lại là
một mối đe dọa đối với con người và thế giới” (Thông điệp Spe
Salvi, số 22). Theo đó, lương tâm ngay chính và đời sống nội tâm
sâu xa là yếu tố căn bản cho sự bền vững và phát triển của xã
hội. Những hoạt động xã hội, văn hóa, chính trị đều phải xây
dựng trên nền tảng lương tâm ngay chính mới mang lại hiệu quả
tích cực. Gia đình là môi trường quan trọng và không thể thay
thế cho việc huấn luyện này. Người cha người mẹ chính là những
nhà huấn luyện lương tâm cho thế hệ tương lai.
Để cho việc huấn luyện lương tâm
có hiệu quả, cần phải có sự cộng tác của mọi thành phần Giáo Hội
và xã hội, vì xã hội được coi như sự nối dài của gia đình trong
sứ mạng giáo dục. Thật là mâu thuẫn nếu trong nhà cha mẹ dạy con
thật thà mà ra khỏi gia đình cha mẹ lại gian lận dối trá đối với
những người xung quanh. Gương sáng của cha mẹ và những bậc cha
anh đóng vai trò quan trọng để giáo dục lương tâm cho những thế
hệ nối tiếp. Dân tộc và Giáo Hội Việt Nam trong tương lai sẽ ra
sao nếu thế hệ hôm naybàng quan nhắm mắt trước sự man trá lừa
lọc? Đó là câu hỏi khiến cho các bậc phụ huynh, các giới hữu
trách giáo dục phải đặt ra một cách nghiêm túc để kịp thời tìm
biện pháp cứu vãn tình thế.
17- Gia đình và việc giáo dục các
đức tính nhân bản
Do đời sống công nghiệp và đô thị
phát triển, con người thời nay có nguy cơ sống khép kín, thiếu
tình yêu và thiếu quan tâm đến tha nhân. Gia đình là môi trường
thuận lợi giúp cho các thành viên sống tình liên đới, vị tha,
hài hòa và quảng đại.
Khi chú trọng giáo dục cho con
cái những đức tính nhân bản như khôn ngoan, công bằng, can đảm
và tiết độ, các bậc phụ huynh đang huấn luyện con cái mình
“thành người”. Giáo dục nhân bản còn nhằm huấn luyện con người
có trách nhiệm đối với tha nhân và công ích, góp phần bảo vệ và
phát triển cuộc sống xã hội, tôn trọng thiên nhiên, cổ võ những
hoạt động bác ái. Việc vận động mọi thành viên trong gia đình
cùng tham gia vào mọi sinh hoạt văn hóa lành mạnh, cũng là đường
lối sư phạm cụ thể và hiệu quả để giáo dục nhân bản cho thế hệ
tương lai.
18- Gia đình và sứ mạng tôn
trọng, bảo vệ sự sống
Thánh Kinh nói với chúng ta rằng
Thiên Chúa là Đấng hằng sống. Ngài chia sẻ và thông ban sự sống
cho con người, vì con người được tạo dựng giống hình ảnh của
Ngài (x. St 1,27). Chính Thiên Chúa chúc lành và nâng niu sự
sống con người ngay từ lúc vừa được hình thành trong lòng mẹ.
Đến lượt mình, con người được cộng tác với Thiên Chúa để thông
ban sự sống mình đã nhận. Mặc dù có khả năng thông truyền sự
sống, con người không có quyền hủy hoại sự sống của mình. Đức
Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết: “Sự sống của con người là
thánh thiêng, nó mang tính bất khả xâm phạm được khắc ghi trong
lòng người, trong lương tâm con người” (Thông điệp Tin Mừng sự
sống, số 40). Vì sự sống là ân ban của Thiên Chúa, là vốn quý
giá nhất của đời người, nên ‘Sự sống con người phải được tôn
trọng và bảo vệ một cách tuyệt đối từ giây phút thụ thai’” (Sách
GLGHCG, số 2270). Con người dù đẹp hay xấu, dù thông minh hay
tối dạ, đều là người đã được Thiên Chúa dựng nên và được Ngài
yêu thương. Sự sống của người ấy nằm trong tay Thiên Chúa và Con
Thiên Chúa đã chết trên thập giá cho người ấy. Do đó, những can
thiệp của khoa học nhằm lựa chọn giới tính, những hành vi giết
người như phá thai, làm chết êm dịu... đều đi ngược với phẩm giá
con người và chống lại Thiên Chúa, vì chúng biến con người thành
một thứ hàng hóa hay một sản phẩm thay vì là một sinh linh cao
quý mang hình ảnh của Đấng Tối Cao. Những lớp giáo lý hôn nhân
cần phải giúp học viên hiểu rõ giáo huấn này. Các bậc làm cha mẹ
cũng cần phải hiểu biết để dạy con cái mình tôn trọng sự sống
19- Năm Thánh Phaolô và giáo dục
gia đình
Nói về giáo dục gia đình, chúng
ta không thể không nhắc đến Thánh Phaolô, đặc biệt năm nay Giáo
hội kỷ niệm sinh nhật thứ 2000 của Ngài. Giáo huấn của Thánh
Phaolô về gia đình mở ra cho ta những chân trời mới khi mặc cho
gia đình những chiều kích sâu xa: chiều kích Ba Ngôi và vĩnh cửu.
Theo Thánh Phaolô, mỗi một con
người ra đời được kêu gọi vào sự sống “trong chân lý và tình yêu”
(Ep 4,15). Sự kêu gọi đó không chỉ liên hệ đến cuộc sống trần
gian nhưng còn hướng tới sự sống vĩnh cửu. Thiên Chúa Cha chính
là nguồn gốc của mọi gia tộc trên trời dưới đất, là tình phụ tử
mẫu mực tuyệt hảo (x. Ep 3,14-15). Mang mẫu mực tuyệt hảo đó
trong mình, Kitô hữu, xuất phát từ gia đình, lên đường xây dựng
một nền văn minh tình thương nhờ tình yêu “Thánh Thần đổ lai
láng trong lòng chúng ta” (Rm 5, 5), giúp con người có thể kiên
tâm phục vụ và “chịu đựng tất cả” (1 Cr 13, 7). Tuyệt vời hơn cả
là nhờ Đức Kitô, nền giáo dục của con người được diễm phúc mang
chiều kích cứu độ và đạt đến đỉnh điểm của nhân tính nơi mầu
nhiệm Phục sinh (x. Ep 3, 14-15).
Với những lời khuyên chi tiết cho
từng thành viên của gia đình trong thư gửi cộng đoàn tín hữu
Êphêsô (x. Ep 5-6), Thánh Phaolô cho chúng ta thấy một quan niệm
và giáo huấn của Ngài về hạnh phúc gia đình. Một gia đình có nề
nếp, trên kính dưới nhường không những chỉ là một tổ ấm yêu
thương, mà còn phản ánh tình yêu của Đức Kitô đối với Giáo Hội.
Các thành viên trong gia đình cần hy sinh cho nhau, trong tâm
tình của Đức Giêsu Đấng đã hy sinh và hiến mình cho Giáo Hội. Đó
là khởi điểm của hạnh phúc và là điều kiện để đạt tới sự trọn
lành.
Tóm lại, theo Thánh Phaolô, qua
gia đình và giáo dục theo tinh thần Tin Mừng, con người vừa xây
dựng xã hội trần gian cách tích cực, vừa chu toàn được sứ mệnh
xây dựng Giáo Hội và cuối cùng được siêu thăng cùng với Đức Kitô
toàn thắng.
LỜI KẾT
20- Với những điều nói trên,
chúng tôi mời gọi mọi thành phần Dân Chúa hãy cộng tác trong
việc vun trồng những thế hệ tương lai. Nếu gia đình là nhân tố
quyết định sự tồn vong của Giáo Hội và xã hội, thì việc đầu tiên
chúng ta phải nghĩ tới là củng cố và thăng tiến gia đình, để bảo
đảm cho hôn nhân và gia đình có được sức sống yêu thương tràn
đầy và sự thăng tiến về nhân bản cũng như lòng đạo đức.
Chúng ta phó thác những dự tính
mục vụ năm nay nơi lời bầu cử của Thánh Cả Giuse và Đức Maria.
Các Ngài là những bậc cha mẹ gương mẫu, luôn biết đón nhận thánh
ý Chúa và đem ra thực hành. Trong gia đình Nazareth mọi thành
viên đều tôn trọng nhau, mong muốn cho nhau điều tốt và cùng
nhau thực hiện ý của Cha trên trời. Thánh Giuse và Đức Maria là
những nhà giáo dục tài giỏi đã chu toàn sứ mạng được trao phó
trong sự khôn ngoan và trung tín. Xin các Ngài chuyển cầu và
luôn phù trợ cho các gia đình chúng ta.
Kính chúc anh chị em được tràn
đầy ân sủng của Thiên Chúa, luôn hạnh phúc và bình an.
Hà Nội ngày 05 tháng 12 năm 2008
TM/HĐGMVN
Gm. Phêrô Nguyễn văn Nhơn
Chủ tịch
Gm.Giuse Ngô quang Kiệt
Tổng thư ký |